Designed by: PHAN ĐÌNH TRUNG

Đọc báo Oline

Tài nguyên dạy học

MÁY TÍNH


Hỗ trợ trực tuyến

  • (trungphan77)

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh của tôi

    Andres_Sanzol_Motor_Stirling_engine.flv Motor.flv IMG_0955.jpg 1588_8.jpg Bong_sen_vang20127.jpg Bongsenvang20127.jpg Lich_thi_dau_EURO_2012.jpg Ap_suat_khi_quyen2.flv Can_bang_luc.swf Anh_sang_va_am_thanh1.swf Ap_suat1.flv Ao_suat_chat_long_31.swf Anh_thi_nghiem_Borao.gif Anh_1_vat_qua_TKHT1.swf Acsimet.jpg Anh_cua_mot_vat_qua_thau_kinh_PK.swf Acsimet.gif 11_UNG_DUNG_DONG_CO_DOT_TRONG_1.swf Anh_cua_mot_vat_qua_thau_kinh_HT.swf P1000645.jpg

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    TIN

    THỜI TIẾT

    Nghệ An
    Click for Vinh, Viet Nam Forecast
    thanh hóa
    Click for Thanh Hoa, Viet Nam Forecast
    thủ đô hà nội

    cố đô huế

    tp hồ chí minh

    tp ðà nẵng

    Truyện cười

    Gốc > Vật lí và cuộc sống > Đóng góp của Frankin, Priestley và Coulomb >

    Đóng góp của Frankin, Priestley và Coulomb

    Benjamin Frankin (17 tháng 01/1706 - 17 tháng 4/1790) Là một trong những người thành lập đất nướcnổi tiếng nhất của Hoa Kỳ. Ông là một chính trị gia, một nhà khoa học, một tác giả, một thợ in, một triết gia,một nhà phát minh, nhà hoạt động xã hội, một nhà ngoại giao hàng đầu. Trong lĩnh vực khoa học, ông là gương mặt điển hình của lịch sử vật lý vì nhữngkhám phá của ông và những lý thuyết về điện, ví dụ như các khám phá về hiện tượng sấm, sét. Với vai trò một chínhtrị gia và một nhà hoạt động xã hội, ông đã đưa ra ý tưởng về một nước Mỹ. Còn với vai trò một nhà ngoại giao trong thờikỳ Cách mạng Mỹ, ông đã làm cho liên minh là Pháp giúp đỡ để có thể giành độc lập. Năm 1750, chai Leyde mới được miền đất Bắc Mỹ biết đến. Tại nơi đây,c hưa có một phòng thí nghiệm do chính quyền mở ra, chưa có một hội khoa học nào cũng như một trường đại học nào. Tuy nhiên Tân Thế Giới vẫn có nhiều nhà khảo cứu và phát minh. Những người này mua sách báo và vật dụng khoa học từ châu Âu và thường phổ biến các kết quả của công cuộc tìm kiếm qua sách báo của nước Anh. Trong số các nhà khoa học của châu Mỹ, có nhà vật lý danh tiếng miền Philadelphia: ông Benjamin Franklin. Franklin đã mua được một chai Leyde từ châu Âu rồi sau rất nhiều thí nghiệm về điện với dụng cụ này, ông đi tới nhận xét rằng tia điện phát ra từ chai tụ điện giống như các lằn chớp trên trời trong những ngày giông tố. Ông tự hỏi phải chăng sấm chớp cũng là một thứ điện nhưng với một cường độ lớn gấp bội? Nếu như thế phảil àm sao nghiệm thử giả thuyết này. Franklin liền làm một chiếc diều khá lớn, phất bằng lụa rồi vào một buổi chiều mây đen kéo tới mù mịt, ông cùng đứa contrai William đem diều ra thả. Chiếc diều theo gió mạnh lên cao vùn vụt, chẳngmấy chốc đã tới tầng mây đen thấp nhất. Franklin buộc tại cuối sợi dây diềuchiếc chìa khóa bằng kim loại. Mười phút sau sấm sét rền trời rồi mưa xuống. Franklin đưa tay gần chiếc chìa khóa thì thấy có tia lửa bật ra và ông cảm thấy bị điện giật. Như vậy sợi dây diều ngấm nước đã truyền điện từ trên mây xuống và khi ông đưa tay gần chiếc chìa khóa bằng đồng, điện đã truyền qua người ông. Franklin liền sai William mang chai Leyde ra, rồi đặt chiếc đinh nơi cổ chai gần chiếc chìa khóa đồng, tức thì cáct ia lửa bật ra và chai Leyde đã đầy điện. Thật là may mắn cho Franklin đã không bị thiệt mạng trong thí nghiệm táo bạo này vì sau đó 10 năm, nhà vật lý người Nga tên là Richmann thuộc trường Đại Học St. Petersburg khi thực hiện lại thí nghiệm này đã bị sét đánh chết. Từ cuộc thí nghiệm về sấm chớp, Benjamin Franklin kết luận rằng điện có mặt tại khắp nơi. Khi một vật có quá nhiều điện lượng, vật này dễ làm mất số điện lượng đó và Franklin nói rằng vật đó chứa điện dương. Trái lại khi một vật không có đủ số điện lượng thông thường, vật này dễ nhận thêm điện lượng mới, ông nói vật đó chứa điện âm. Franklin cho phổ biến công cuộc khảo cứu của ông trên một tờ báo khoa học tại nước Anh vì thời bấy giờ châu Mỹ còn là một thuộc địa của nước Anh. Ngoài lý thuyết về điện, Benjamin Franklin còn phát minh ra cột thu lôi. Để trắc nghiệm, ông đã can đảm dựng ngay một cột thu lôi trên nóc nhà của mình. Sau nhiều ngày giông bão, căn nhà củaông vẫn không sao nên dân chúng trong vùng Philadelphia cũng bắt chước ông thựchiện dụng cụ này. Franklin đã cho thấy rõ lợi ích của cột thu lôi trong cuốn lịch The Poor Richard Almanach. * Công lao của Benjamin: Ông là người đầu tiên đặt tên điện tích dương và điện tích âm. Đồng thời nói đến nguyên lí bảo toàn điện tích. Tuy nhiên ông sai lầm khi khẳng định, điện chạy từ cực dương đến cực âm. Phát minh ra cột thu lôi, phát minh thực tiễn đầu tiên xuất hiện trong lĩnh vực điện vào cuộc sống. *Joseph Priestley- Coulomb: Joseph Priestley Một mục sư người Anh là một người say mê khoa học, suy rằng định luật của lực giữa các điện tích phải giống dạng như định luật nghịch đảo bình phương cho lực hấp dẫn của Newton. Công lao của Joseph Priestley: 1767,ông phát hiện ra than chì có khả năng dẫn điện. Priestley đưa ra một gợi ý về sự giống nhau giữa lực hấp dẫn của Newton và lực điện. Theo Newton, một quả cầu rỗng bên trong nó không có tương tác hấp dẫn. Bằng những thí nghiệm của mình, Priestley cũng thấy nó không có tương tác điện. Từ đây ông suy đoán lực điện cũng có cùng 1 dạng với lực hấp dẫn. Ý tưởng này của Priestley đã được Coulomb kiểm tra và xác định sựđúng đắn của nó. Charles Augustin De Coulomb: Coulomb (1736 - 1806) một nhà vật lí người Pháp đã dùng thực nghiệm bằng một cân xoắn, gồm hai quả cầunhỏ bằng kim loại mang điện đóng vai trò của điện tích điểm. Bằng cách giữ cho điện tích của hai quả cầu không đổi, đo sự phụ thuộc của lực tương tác vào khoảng cách giữa chúng, Coulomb thấy rằng lực tương tác giữa hai điện tích có phương trùng với đường thẳng nối hai điện tích và có độ lớn tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa chúng. Ðiều này là hợp lý, vì dựa vào lực tương tác điện ta có thể nhận biết được sự có mặt của điện tích. Như vậy, ta đã có cách để so sánh độ lớn của các điện tích. Từ đó, nếu chọn một điện tích làm đơn vị, ta có thể xác định độ lớn của mọi điện tích khác. Kết quả trên đây cho thấy rằng lực tác dụng giữa hai điện tích A và B tỉ lệ với độ lớn của điện tích B. Vì lực tương tác tĩnh điện giữa hai điện tích điểm tuân theo định luật III Newton. Vậy suy ra rằng lực tương tác tỉ lệ với độ lớn của từng điện tích, do đó tỉ lệ với tích độ lớn của các điện tích A và B. Trong năm 1785 Coulomb đã đưa ra 3 trình án về Điện Năng và Từ Trường: Premier Mémoire sur l’Electricité et leMagnétisme, (Hàn Lâm Viện Khoa Học, số 569-577, năm 1785). Trong đây ông diễn giải cách : "Làm thế nào để tạo ra và sử dụng 1 chiếc cân xoắn dựa trên đặctính của sơi dây kim loại có lực xoắn đàn hồi tỉ lệ với góc quay". Ôngcũng cho ra quy luật giải thích về "Ảnh hưởng hỗ trợ của hai dòng điện cùng loại" Sécond Mémoire sur l’Electricité et leMagnétisme, (Hàn Lâm Viện Khoa Học, số 578-611, năm 1785). Trong đây ông nói về "Cách áp dụng quy luật vế điện năng và từ trường thuận nghịch (hút và đẩy) Troisième Mémoire sur l’Electricité et leMagnétisme, (Hàn Lâm Viện Khoa Học số 612-638, năm 1785) nói về "Điện năng hao hụt theo thời gian vì ảnh hưởng của không khí ẩm hay vì tính chất ít dẫn điện". Coulmb nói về quy luật hút và đẩy giữa các điện tích và cực từ trường mặc dù ông không thể giải thích sự liên hệ giữa hai lực đó. Ông cho rằng sự hút và đẩy đó là do hai dòng điện lực khác nhau. Đơn vị của điện tích trong hệ SI, Coulomb (C), và định luật Coulomb đã được đặt ra theo tên của ông. Benjamin Frankin (17 tháng 01/1706 - 17 tháng 4/1790) Là một trong những người thành lập đất nướcnổi tiếng nhất của Hoa Kỳ. Ông là một chính trị gia, một nhà khoa học, một tác giả, một thợ in, một triết gia,một nhà phát minh, nhà hoạt động xã hội, một nhà ngoại giao hàng đầu. Trong lĩnh vực khoa học, ông là gương mặt điển hình của lịch sử vật lý vì nhữngkhám phá của ông và những lý thuyết về điện, ví dụ như các khám phá về hiện tượng sấm, sét. Với vai trò một chínhtrị gia và một nhà hoạt động xã hội, ông đã đưa ra ý tưởng về một nước Mỹ. Còn với vai trò một nhà ngoại giao trong thờikỳ Cách mạng Mỹ, ông đã làm cho liên minh là Pháp giúp đỡ để có thể giành độc lập. Năm 1750, chai Leyde mới được miền đất Bắc Mỹ biết đến. Tại nơi đây,c hưa có một phòng thí nghiệm do chính quyền mở ra, chưa có một hội khoa học nào cũng như một trường đại học nào. Tuy nhiên Tân Thế Giới vẫn có nhiều nhà khảo cứu và phát minh. Những người này mua sách báo và vật dụng khoa học từ châu Âu và thường phổ biến các kết quả của công cuộc tìm kiếm qua sách báo của nước Anh. Trong số các nhà khoa học của châu Mỹ, có nhà vật lý danh tiếng miền Philadelphia: ông Benjamin Franklin. Franklin đã mua được một chai Leyde từ châu Âu rồi sau rất nhiều thí nghiệm về điện với dụng cụ này, ông đi tới nhận xét rằng tia điện phát ra từ chai tụ điện giống như các lằn chớp trên trời trong những ngày giông tố. Ông tự hỏi phải chăng sấm chớp cũng là một thứ điện nhưng với một cường độ lớn gấp bội? Nếu như thế phảil àm sao nghiệm thử giả thuyết này. Franklin liền làm một chiếc diều khá lớn, phất bằng lụa rồi vào một buổi chiều mây đen kéo tới mù mịt, ông cùng đứa contrai William đem diều ra thả. Chiếc diều theo gió mạnh lên cao vùn vụt, chẳngmấy chốc đã tới tầng mây đen thấp nhất. Franklin buộc tại cuối sợi dây diềuchiếc chìa khóa bằng kim loại. Mười phút sau sấm sét rền trời rồi mưa xuống. Franklin đưa tay gần chiếc chìa khóa thì thấy có tia lửa bật ra và ông cảm thấy bị điện giật. Như vậy sợi dây diều ngấm nước đã truyền điện từ trên mây xuống và khi ông đưa tay gần chiếc chìa khóa bằng đồng, điện đã truyền qua người ông. Franklin liền sai William mang chai Leyde ra, rồi đặt chiếc đinh nơi cổ chai gần chiếc chìa khóa đồng, tức thì cáct ia lửa bật ra và chai Leyde đã đầy điện. Thật là may mắn cho Franklin đã không bị thiệt mạng trong thí nghiệm táo bạo này vì sau đó 10 năm, nhà vật lý người Nga tên là Richmann thuộc trường Đại Học St. Petersburg khi thực hiện lại thí nghiệm này đã bị sét đánh chết. Từ cuộc thí nghiệm về sấm chớp, Benjamin Franklin kết luận rằng điện có mặt tại khắp nơi. Khi một vật có quá nhiều điện lượng, vật này dễ làm mất số điện lượng đó và Franklin nói rằng vật đó chứa điện dương. Trái lại khi một vật không có đủ số điện lượng thông thường, vật này dễ nhận thêm điện lượng mới, ông nói vật đó chứa điện âm. Franklin cho phổ biến công cuộc khảo cứu của ông trên một tờ báo khoa học tại nước Anh vì thời bấy giờ châu Mỹ còn là một thuộc địa của nước Anh. Ngoài lý thuyết về điện, Benjamin Franklin còn phát minh ra cột thu lôi. Để trắc nghiệm, ông đã can đảm dựng ngay một cột thu lôi trên nóc nhà của mình. Sau nhiều ngày giông bão, căn nhà củaông vẫn không sao nên dân chúng trong vùng Philadelphia cũng bắt chước ông thựchiện dụng cụ này. Franklin đã cho thấy rõ lợi ích của cột thu lôi trong cuốn lịch The Poor Richard Almanach. * Công lao của Benjamin: Ông là người đầu tiên đặt tên điện tích dương và điện tích âm. Đồng thời nói đến nguyên lí bảo toàn điện tích. Tuy nhiên ông sai lầm khi khẳng định, điện chạy từ cực dương đến cực âm. Phát minh ra cột thu lôi, phát minh thực tiễn đầu tiên xuất hiện trong lĩnh vực điện vào cuộc sống. *Joseph Priestley- Coulomb: Joseph Priestley Một mục sư người Anh là một người say mê khoa học, suy rằng định luật của lực giữa các điện tích phải giống dạng như định luật nghịch đảo bình phương cho lực hấp dẫn của Newton. Công lao của Joseph Priestley: 1767,ông phát hiện ra than chì có khả năng dẫn điện. Priestley đưa ra một gợi ý về sự giống nhau giữa lực hấp dẫn của Newton và lực điện. Theo Newton, một quả cầu rỗng bên trong nó không có tương tác hấp dẫn. Bằng những thí nghiệm của mình, Priestley cũng thấy nó không có tương tác điện. Từ đây ông suy đoán lực điện cũng có cùng 1 dạng với lực hấp dẫn. Ý tưởng này của Priestley đã được Coulomb kiểm tra và xác định sựđúng đắn của nó. Charles Augustin De Coulomb: Coulomb (1736 - 1806) một nhà vật lí người Pháp đã dùng thực nghiệm bằng một cân xoắn, gồm hai quả cầunhỏ bằng kim loại mang điện đóng vai trò của điện tích điểm. Bằng cách giữ cho điện tích của hai quả cầu không đổi, đo sự phụ thuộc của lực tương tác vào khoảng cách giữa chúng, Coulomb thấy rằng lực tương tác giữa hai điện tích có phương trùng với đường thẳng nối hai điện tích và có độ lớn tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa chúng. Ðiều này là hợp lý, vì dựa vào lực tương tác điện ta có thể nhận biết được sự có mặt của điện tích. Như vậy, ta đã có cách để so sánh độ lớn của các điện tích. Từ đó, nếu chọn một điện tích làm đơn vị, ta có thể xác định độ lớn của mọi điện tích khác. Kết quả trên đây cho thấy rằng lực tác dụng giữa hai điện tích A và B tỉ lệ với độ lớn của điện tích B. Vì lực tương tác tĩnh điện giữa hai điện tích điểm tuân theo định luật III Newton. Vậy suy ra rằng lực tương tác tỉ lệ với độ lớn của từng điện tích, do đó tỉ lệ với tích độ lớn của các điện tích A và B. Trong năm 1785 Coulomb đã đưa ra 3 trình án về Điện Năng và Từ Trường: Premier Mémoire sur l’Electricité et leMagnétisme, (Hàn Lâm Viện Khoa Học, số 569-577, năm 1785). Trong đây ông diễn giải cách : "Làm thế nào để tạo ra và sử dụng 1 chiếc cân xoắn dựa trên đặctính của sơi dây kim loại có lực xoắn đàn hồi tỉ lệ với góc quay". Ôngcũng cho ra quy luật giải thích về "Ảnh hưởng hỗ trợ của hai dòng điện cùng loại" Sécond Mémoire sur l’Electricité et leMagnétisme, (Hàn Lâm Viện Khoa Học, số 578-611, năm 1785). Trong đây ông nói về "Cách áp dụng quy luật vế điện năng và từ trường thuận nghịch (hút và đẩy) Troisième Mémoire sur l’Electricité et leMagnétisme, (Hàn Lâm Viện Khoa Học số 612-638, năm 1785) nói về "Điện năng hao hụt theo thời gian vì ảnh hưởng của không khí ẩm hay vì tính chất ít dẫn điện". Coulmb nói về quy luật hút và đẩy giữa các điện tích và cực từ trường mặc dù ông không thể giải thích sự liên hệ giữa hai lực đó. Ông cho rằng sự hút và đẩy đó là do hai dòng điện lực khác nhau. Đơn vị của điện tích trong hệ SI, Coulomb (C), và định luật Coulomb đã được đặt ra theo tên của ông.
    Nhắn tin cho tác giả
    Phan Đình Trung @ 23:32 21/12/2010
    Số lượt xem: 131
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Welcome to Website HỖ TRỢ DẠY - HỌC VẬT LÝ